Số liệu năm học 2010-2011

Liên kết Website

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Nguyễn Khánh Dũng)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    DSC00108.jpg DSC01387.jpg DSCN1365.jpg DSC01373.jpg WP_20131231_14_26_40_Smart.jpg WP_20131231_15_08_07_Smart.jpg WP_20131231_15_08_39_Smart.jpg WP_20131231_15_35_31_Smart.jpg DSC03356.jpg PP_Ban_tay_nan_bot.flv PP_Ban_tay_nan_bot_1.flv PP_Ban_tay_nan_bot_1.flv PP_Ban_tay_nan_bot.flv DSC030491.jpg Picture_0069.jpg SAM_1188.flv SAM_1187.jpg SAM_1086.jpg SAM_1156.jpg SAM_1157_1.flv

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Tra từ điển Online


    Tra theo từ điển:



    Sự kiện lịch sử hôm nay


    Tháng
    Năm

    Tư tưởng Hồ Chí Minh Tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng. Mục đích của tự phê bình và phê bình là: Làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi; làm cho các tổ chức đảng luôn luôn trong sạch, vững mạnh; để tăng cường đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng; để các tổ chức Đảng và đảng viên luôn hoàn thiện mình, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao cho.
    Tự phê bình và phê bình phải được tiến hành thường xuyên, như người ta rửa mặt hàng ngày.
    Tự phê bình phải thành khẩn. Thành khẩn, thành tâm, không “giấu bệnh sợ thuốc” sẽ giúp cho việc tự phê bình có kết quả tốt.
    Phê bình phải trung thực, “không đặt điều”, “không thêm bớt”.
    Tự phê bình và phê bình phải kiên quyết, “ráo riết”, không nể nang.
    Tự phê bình và phê bình phải có tính chất xây dựng “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

    SKKN Hoa hoc 9

    (Bài giảng chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Thái Văn Nguyên
    Ngày gửi: 22h:20' 08-06-2010
    Dung lượng: 60.5 KB
    Số lượt tải: 458
    Số lượt thích: 0 người

    A. Mở đầu
    I) Tính cấp thiết của đề tài.
    Đối với học sinh THCS, do từ lớp 8 mới được tiếp cận với môn hóa cho nên trong qúa trình học tập chúng tôi nhận thấy có rất nhiều học sinh yếu môn này. Nguyên nhân ở đây là do phải nghiên cứu một số lượng kiến thức lớn nhưng thời gian học tập ít. Mặt khác, môn hóa học có liên quan mật thiết với môn toán nên đối với học sinh học toán yếu lại càng gặp nhiều khó khăn. Để làm các bài tập hóa học thì học sinh ngoài việc nhớ tính chất hóa học, biết viết phương trình phản ứng, cân bằng phương trình và vận dụng các công thức hóa học cơ bản để tính theo công thức và phương trình hóa học thì phải nhớ các công thức tính toán quan trọng như các công thức tính số mol, nồng độ phần trăm, nồng độ mol......Khi giảng dạy các tiết luyện kĩ năng làm bài tập cho học sinh và qua các bài kiểm tra tôi nhận thấy khi vận dụng công thức tính số mol các em thường mắc phải một số sai lầm cơ bản- kể cả những học sinh học khá. Trước thực tế đó, được sự giúp đỡ của các đồng nghiệp và sự ủng hộ của học sinh tôi đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này nhằm đưa ra những cách khắc phục có hiệu quả.
    II) Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.
    1) Mục đích nghiên cứu.
    Trong quá trình giảng dạy tôi đã nắm bắt được nhiều sai lầm cơ bản của học sinh khi vận dụng công thức tính toán số mol thông qua các tiết chữa bài tập, kiểm tra viết, kiểm tra vở bài tập.... không thời tìm ra giải pháp cụ thể để giúp các em khắc phục thì sẽ rất khó khăn cho các em khi học các phần tiếp theo mà đặc biệt là phần có liên quan đến công thức tính số mol. Vì vậy tôi nghiên cứu vấn đề này nhằm tìm ra phương pháp hiệu quả vận dụng trong giảng dạy để hướng dẫn học sinh vận dụng khi làm bài tập. Ngoài ý kiến của bản thân còn tranh thủ sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp trong nhà trường để bổ sung thêm những kinh nghiệm.
    2) Nhiệm vụ nghiên cứu.
    Đối với vấn đề này trước khi đi sâu nghiên cứu tôi đề ra các nhiệm vụ cần đạt như sau:
    - Tìm được những sai lầm của học sinh khi vận dụng công thức tính toán số mol từ đơn giản đến phức tạp của tất cả các đối tượng học sinh( giỏi, khá, trung bình, yếu) thông qua các tiết dạy trên lớp và thông qua các bài kiểm tra đánh giá, kiểm tra vở bài tập về nhà.
    - Dự báo những sai lầm chưa gặp trong thực tế của học sinh nhưng nếu gặp vấn đề đó các em có thể sai lầm và tiến hành thử nghiệm trước đối tượng dự báo nhằm đánh giá dự báo.
    - Từ kinh nghiệm của bản thân và tham khảo ý kiến của các đồng nghiệp để đề ra các biện pháp khắc phục phù hợp nhất sau đó tiến hành thử nghiệm vào trong qúa trình giảng dạy để viết thành kinh nghiệm.
    III) Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
    1) Khách thể.
    - Khách thể của nghiên cứu là học sinh khối 8, 9 trường THCS Hương Đô năm học 2007- 2008 và 2008- 2009: Thông qua các tiết dạy hóa, các tiết kiểm tra hoặc qua việc kiểm tra bài tập để nghiên của tổng hợp những sai lầm của học sinh
     
     
     
    Gửi ý kiến

    ↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓

    print

    Thanks for your visiting

    free counters

    Bảng thử code


    Sẽ không hiển thị nếu code của bạn bị lỗi, khi đó bạn hãy sửa lại code ngay tại khung bên trái ! Chương trình ứng dụng chính xác cho các loại mã Java Script; HTML. Chúc bạn luôn thành công !

    Chỉ thị số 33