Số liệu năm học 2010-2011

Liên kết Website

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Nguyễn Khánh Dũng)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    WP_20150905_07_41_55_Pro.jpg WP_20150905_07_40_52_Pro.jpg Anh_4.jpg Anh_5.jpg Anh.jpg Anh_3.jpg Anh_2.jpg Anh_1.jpg DSC03786.jpg DSC03765.jpg DSC03762.jpg DSC03761.jpg DSC03727.jpg DSC03724.jpg Hinh00211.jpg Hinh0021.jpg Hinh0004.jpg Hinh0002.jpg DSC02492.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Tra từ điển Online


    Tra theo từ điển:



    Sự kiện lịch sử hôm nay

    Tư tưởng Hồ Chí Minh Tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng. Mục đích của tự phê bình và phê bình là: Làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi; làm cho các tổ chức đảng luôn luôn trong sạch, vững mạnh; để tăng cường đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng; để các tổ chức Đảng và đảng viên luôn hoàn thiện mình, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao cho.
    Tự phê bình và phê bình phải được tiến hành thường xuyên, như người ta rửa mặt hàng ngày.
    Tự phê bình phải thành khẩn. Thành khẩn, thành tâm, không “giấu bệnh sợ thuốc” sẽ giúp cho việc tự phê bình có kết quả tốt.
    Phê bình phải trung thực, “không đặt điều”, “không thêm bớt”.
    Tự phê bình và phê bình phải kiên quyết, “ráo riết”, không nể nang.
    Tự phê bình và phê bình phải có tính chất xây dựng “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.
    Gốc > Văn bản >

    Đánh giá 2 năm thưc hiện Chuẩn KT, KN các môn học và DMPPDH tiểu học

      UBND HUYỆN HƯƠNG KHÊ                 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

               PHÒNG GD-ĐT                          Độc lập –  Tự do – Hạnh phúc

     

           
          Số :           /PGD- BCTH                           Hương Khê, ngày 23  tháng 11 năm 2010

    V/v: đánh giá thực hiện Chuẩn KT, KN

    các môn học và đổi mới PPDH ở tiểu học

                                                                      BÁO CÁO

                        ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG CÁC MÔN HỌC

                                      VÀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TIỂU HỌC

             

              Thực hiện công văn số 1234/SGDĐT-GDTH ngày 25/10/2010 của Sở GD&ĐT Hà Tĩnh về việc đánh giá thực hiện Chuẩn KT, KN các môn học và công tác đổi mới PPDH ở tiểu học, Phòng GD&ĐT Hương Khê đã có công văn số 418/PGD-TH ngày 02/11/2010 hướng dẫn các trường tổ chức triển khai đánh giá việc tổ chức dạy học theo Chuẩn KT, KN các môn học theo Công văn số 624/BGDĐT- GDTH ngày 05/02/2009. Đến thời điểm này đã có 38/38 trường tổ chức đánh giá việc dạy học theo Chuẩn KT, KN các môn học từ tổ- khối và tổ chức cấp trường. Từ văn bản hướng dẫn các trường đã tổ chức chu đáo việc đánh giá dạy học theo chuẩn đồng thời rà soát bất cập, bất hợp lý giữa mục tiêu cần đạt trong SGV và tài liệu chuẩn KT, KN; bất cập giữa nội dung SGK, và yêu cầu cần đạt trong tài liệu Chuẩn; sự sai lệch giữa phân phối chương trình và nội dung chuẩn yêu cầu …

             Qua thực tiễn chỉ đạo, công tác kiểm tra tại cơ sở, nghiên cứu tài liệu và văn bản báo cáo, tổng hợp từ  các đơn vị trường học, thực tiễn sử dụng Chuẩn KT, KN các môn học, triển khai dạy học Thủ công, Kĩ thuật, Thông tư 32 và quá trình đổi mới phương pháp dạy học đã đạt được một số kết quả sau:      

    I- Việc thực hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở tiểu học.

    1.1 Tổ chức dạy học theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học theo Công văn số 624/BGDĐT-GDTH ngày 05/02/2009 về việc Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở tiểu học:

         - Công tác chỉ đạo tập huấn bồi dưỡng CBQL, GV

             Thực hiện chỉ đạo của Sở GD&ĐT về triển khai về triển khai công văn số 624/BGDĐT-GDTH ngày 09/02/2009 về việc Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở tiểu học  Phòng GD&ĐT Hương Khê đã triển khai chuyên đề đối với 100% CBQL, GV TH trong toàn ngành trong đầu học kì 2 năm học 2009-2010. Phòng chỉ đạo các cụm chuyên môn liên trường (6 cụm trong toàn huyện) trong sinh hoạt chuyên môn tiếp tục trao đổi về việc thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học. Tổng kết công tác sinh hoạt liên trường đưa phần “dạy học theo chuẩn và những khó khăn vướng mắc” vào sơ kết 1 năm thực hiện; các cụm đã làm tốt nội dung này như cụm 2 (Phúc Trạch), cụm 3(Hương Xuân)…. Qua sơ kết làm cho CBQL, GV thấy rõ hơn Chuẩn KT, KN là sự cụ thể về mục tiêu, nội dung chương trình GDPT theo QĐ 16/2006/QĐ-BGDĐT (cấp tiểu học), là yêu cầu cơ bản, tối thiểu mà mọi HS theo khối lớp phải đạt được; là cơ sở cơ bản để giáo viên chuẩn bị và định hướng PPDH. Chuẩn kiến thức, kĩ năng khắc phục cơ bản được tình trạng dạy học quá tải theo sách giáo khoa nhờ phân định tính tối thiểu trong mỗi bài học, môn học và vùng miền khác nhau. Chuẩn kiến thức kĩ năng đã giao quyền tự chủ về nội dung, thời lượng từng tiết học trong giới hạn mục tiêu đạt được cho mỗi nhà trường, mỗi giáo viên; dạy học phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện CSVC của mỗi trường, địa phương. Để phục vụ chuyên đề phòng đã cung ứng đầy đủ tài liệu về Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học cho GV đứng lớp và CBQL các trường học, các học viên được nghiên cứu tài liệu và mang những ý kiến của mình để trao đổi và thống nhất tại các lớp chuyên đề.

     Vào giữa tháng 8/2010 Phòng tiếp tục triển khai chuyên đề thiết thực về PPDH Toán, Tiếng Việt và dạy học theo chuẩn KT, KN ở các môn học. 

       - Những thuận lợi dạy học theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học:

               Chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở tiểu học cụ thể hóa mục tiêu dạy học ở tiểu học, “là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của của môn học mà học cần phải và có thể đạt được. Chuẩn kiến thực kĩ năng được cụ thể hóa ở các chủ đề của môn học theo từng lớp, ở các lĩnh vực học tập cho từng lớp và cho cả cấp học. Là cơ sở để biên soạn sách giáo khoa , quản lí dạy học, đánh giá kết quả giáo dục ở từng môn học và hoạt động giáo dục”. (Trích Chương trình Giáo dục Phổ thông cấp tiểu học ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐBGD&ĐT)

              * Từ những quan điểm trên, cho thấy thực hiện dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở tiểu học có những mặt thuận lợi lớn :

              + Đảm bảo tính thống nhất, tính khả thi của chương trình giáo dục tiểu học. Chuẩn KT, KN là thước đo chất lượng dạy học theo mục tiêu đã đề ra, nó giúp giáo viên chủ động điều chỉnh nội dung và phương pháp và hình thức dạy học phù hợp với tình hình thực tế tại lớp, tại địa phương. Giúp các nhà quản lí đánh giá chất lượng dạy học và có định hướng và điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tế các địa phương.

              + Là cơ sở để ngành có định hướng và các trường học chủ động kiểm định chất lượng GD đảm bảo mục tiêu giáo dục của bậc học . Chuẩn KT, KN là cơ sở để cán bộ quản lí đánh giá tính hiệu quả quá trình giáo dục của giáo viên và toàn trường học.

              + Khắc phục  được tình trạng quá tải trong dạy học ở tiểu học, ổn định chất lượng dạy học ở tiểu học. Tạo điều kiện cho GV thực hiện đạt mục tiêu dạy học đề ra, không bị áp lực và chủ động, linh hoạt trong thời lượng các tiết cũng như kiến thức dựa trên đối tượng học sinh, điều kiện CSVC, TBDH của đơn vị; góp phần khắc phục được sự chênh lệch về trình độ giáo dục giữa các vùng miền.

              + Học sinh chủ động học tập và có thể tự kiểm tra đánh giá năng lực học tập của mình thông qua chuẩn kiến thức kĩ năng.

    + Với chuẩn kiến thức tối thiểu như thế làm tăng số lượng học sinh đạt chuẩn yêu cầu và tăng rõ rệt học sinh được xếp khá giỏi(trên chuẩn tối thiểu) trong các bài kiểm tra và đánh giá ở cuối kì và năm học. Làm giảm cường độ và làm việc cho GV(nếu chỉ để đạt tối thiểu), các hoạt động dạy học thực sự nhẹ nhành; đa số học sinh tiếp cận được mức chuẩn tối thiểu..

             * Những khó khăn dạy học theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học :

              + Mục đích của Bộ GD-ĐT là để bảo đảm việc dạy học, kiểm tra, đánh giá, bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng, phù hợp với năng lực nhận thức của học sinh; không làm quá tải nội dung dạy học; giúp học sinh thuận lợi trong việc tự học, tự kiểm tra, đánh giá để nắm vững kiến thức, kỹ năng. Tuy nhiên, từ khi thực hiện, giáo viên và học sinh tại thu được nhiều thuận lợi song cũng thấy một sô bất cập.

             + Người dạy và người học đã quen với bộ sách giáo khoa (SGK). Tuy tâm lí coi SGK là tài liệu pháp lệnh đã được giảm bớt nhưng vẫn còn in sâu trong tâm thức nên rất khó thay đổi. Bên  đó người giáo viên luôn coi nội dung bài học là nội dung trong SGK do vậy khi thêm tài liệu chuẩn thì làm cho người dạy phải tra cứu nhiều hơn.

           + Sách hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng không phát hành rộng rãi đến học sinh, học sinh không có bộ sách này, phần lớn các em cũng bám sát SGK vì thầy cô giáo dạy trên lớp cũng dựa theo SGK. Do vậy có hiện tượng học sinh phán ánh giáo viên dạy bỏ một số bài trong SGK.

              + Thêm sách Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng vào làm tài liệu giảng dạy thì giáo viên phải nghiên cứu cả hai bộ tài liệu trong khi kiến thức hai tài liệu này chênh lệch không bao nhiêu.

             + Sách giáo khoa là tài liệu về nội dung chính thức để dạy – học, sách Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng là tài liệu bắt buộc của chương trình song thực tế chưa đồng bộ, nhất quán dẫn đến nhiều khó khăn trong thực hiện. Đặc là một số bất cập giữa SGK, QĐ 16 và Chuẩn KT, KN. Rất nhiều bài và nội dung của chuẩn vì dựa trên mục tiêu giảm tải mà giảm theo kiểu cắt bớt bài cho nên một số kĩ năng HS cần được rèn luyện thì Chuẩn lại không yêu cầu. Một số nội dung không nhất quán, bất cập giữa tài liệu và chuẩn KT, KN:

    Khối 1: Phân môn học vần tiết ôn tập và kiểm tra ở tuần 10

    Khối 2: Môn Thể dục lệch nhiều bài giữa KT, KN và SGK; môn Toán ở chuẩn KT, KN 32-8 còn SGK 32-5

    Khối  3: Chính tả- nghe viết bài Quê hương (SGK, SGV) nhưng chuẩn lại yêu cầu nghe viết đúng chỉnh tả, trình bày đúng hình thức văn xuôi.

    Khối 4: Nhiều bài trong môn toán, chuẩn KT- KN đã bớt các bài tập sau do vậy học sinh chỉ được dạy học tính chứ không được làm toán; bỏ yêu cầu nhẩm…. như vậy học sinh không được vận dụng dẫn đến các tiết học sau không thực hiện được.

    Khối 5: Một số bài ở học thuộc lòng yêu cầu cần đạt chỉ thuộc lòng 1-2 khổ thơ nhưng tiết chính tả nhớ viết thì yêu cầu cần đạt viết cả bài như bài Ê- mi- li, tiếng đàn ba- la- lai- ca trên sông Đà…

    Môn toán: Yêu cầu cần đạt và hệ thống bài tập cần làm để đạt yêu cầu này lại giảm; ví dụ: bài hàng của số thập phân, Đọc, viết số thập phân(SGK trang 37, chuẩn KT, KN trang 60) hệ thống bài tập cần làm ở CKT, KN là bài tập 1,2. Phần mục tiêu cần đạt ở ý 2 yêu cầu:  HS biết chuyển STP thành hỗn số có chứa PSTP mà yêu cầu này lại nằm ở bài tập 3 (BT 3 đã giảm) ….

    Một số đơn vị kiến thức cùng nhau thì ở bài trước yêu cầu cho HS khá giỏi nhưng tiết sau lại đưa vào mục tiêu cần đạt(trang 61 bài tập 3, trang 62 bài tập 4)…

    + Bên cạnh đó giáo viên chưa mạnh dạn thực hiện điều chỉnh  dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở tiểu học thường máy móc theo SGK mà chưa đáp ứng được yêu cầu dạy học theo đối tượng. …

    + Một số giáo viên chưa chú ý đúng mức đến việc mở rộng và nâng cao cho HS khá, giỏi dạy học chưa đúng đối tượng mà chỉ là đạt chuẩn; có giáo viên còn băn khoăn trong việc nâng cao ở mức độ nào? do sức ép quá tải và sợ vượt chuẩn mà chưa mạnh dạn, chưa thực sự sáng tạo trong việc lựa chọn nội dung nâng cao cho phù hợp đối tượng học sinh.

          - Đánh giá sự phù hợp của Chuẩn kiến thức, kĩ năng của từng môn học đối với khả năng, điều kiện học tập, phát triển của học sinh

              Nhìn chung chuẩn kiến thức kĩ năng các môn học ở tiểu học là phù hợp với khả năng của các đối tượng học sinh tiểu học. Vì là chuẩn ở mức độ “tối thiểu” cho nên phù hợp ở mức độ trung bình, còn mức độ khá, giỏi chưa thể hiện rõ ở một số môn học, tiết học. 

          -  Sự chưa phù hợp

              Vì chuẩn kiến thức kĩ năng ở tiểu học “là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu” nên chương trình và sách giáo khoa hiện nay bám sát mức độ này không có định hướng cho công tác phát triển nâng cao cho học sinh giỏi, học sinh năng khiếu. Chuẩn KT, KN ra đời có phần do sức ép giảm tải, còn vội vàng nên cứ cắt và cắt phần sau; nhưng nếu như thế lại chưa đảm bảo cho HS một số kĩ năng mà mục tiêu cần đạt đề ra. Việc đưa ra chuẩn một số điểm chưa có hệ thống nên giảm ở tiết học này mà tiết sau lại yêu cầu có nó làm cho việc học của HS có nhiều khó khăn.

              Cách ra đề kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng trong vùng giới hạn đó dẫn đến tình trạng số lượng học sinh giỏi, học sinh tiên tiến tăng một cách đột biến trong thời gian gần đây.  

        - Đánh giá hoạt động dạy học theo Chuẩn kiến thức kĩ năng của giáo viên (phù hợp Chuẩn, cao hơn hoặc thấp hơn chuẩn…).

              Hiện giáo viên đã thực hiện phù hợp với chuẩn. tuy nhiên để việc dạy học theo chuẩn cần có một thời gian để Gv quen với cách làm việc vừa nội dung SGK vừa theo yêu cầu của chuẩn và đối tượng học sinh.

    1.2. Triển khai nội dung dạy học môn Thủ công, Kĩ thuật ở tiểu học theo Công văn số 7975/BGDĐT-GDTH ngày 10/9/2009 về việc Hướng dẫn dạy học môn Thủ công, Kĩ thuật ở tiểu học:

    Việc triển khai thực hiện nội dung dạy học môn Thủ công, Kĩ thuật ở tiểu học theo Công văn số 7975/BGDĐT-GDTH ngày 10/9/2009 về việc Hướng dẫn dạy học môn Thủ công, Kĩ thuật ở tiểu học được triển khai bình thường và góp phần tự chủ cho các nhà trường trong việc lựa chọn chương trình và bài học phù hợp với vùng miền tuy nhiên có một số bài cần điều chỉnh thêm để phù hợp hơn:

    Khối II: Bài  Máy bay đuôi rời

              Các bước thực hiện khó nên tăng thêm một tiết ( tổng cộng 3 tiết ) để học sinh hoàn thành sản phẩm

    Khối V:  Những tiết thực hành kĩ thuật lắp ghép mô hình thời gian không đủ cho các em thực hiện nên GVCN chủ động cho các em thực hiện thêm ngoài giờ.

    1.3.Thực hiện đánh giá, xếp loại học sinh tiểu học theo Thông tư số 32/2009/BGDĐT-GDTH ngày 27/10/2010.

    Phòng GD&ĐT Hương Khê đã triển khai đánh giá, xếp loại học sinh tiểu học theo thông tư số 32/2009/BGDĐT-GDTH ngày 12/12/2010 từ năm học 2009-2010. Sau 1 năm học, chúng tôi nhận thấy có những ưu điểm và những tồn tại như sau :

    * Ưu điểm

              Cách đánh giá nhẹ nhàng, phù hợp với học sinh tiểu học. Không nặng nề về điểm số, đánh giá bằng điểm kết hợp với nhận xét, lấy kết quả cuối năm học để quyết định kết quả cả năm học tạo điều kiện để học sinh không ngừng phấn đấu trong học tập và luôn động viên, khuyến khích được học sinh; cách đánh giá này lấy hiệu quả cuối cùng làm thước đo cho một quá trình.

    * Những tồn tại

              Thực hiện đánh giá, xếp loại học sinh tiểu học theo Thông tư số 32/2009/BGDĐT-GDTH ngày 27/10/2010. Không hoàn toàn phù hợp với tất cả các đối tựơng học sinh vì nó chỉ đáp ứng được việc đánh giá học sinh theo thời điểm nên chưa phù hợp với tam lí trong giai đoạn đầu khi mới thực hiện.

    Quyết định 32/2005 của Bộ đã là tiền đề cho Thông tư 32 hiện hành tuy nhiên do tâm lí chung của HS, phụ huynh quen với con điểm nên do vậy mà GV cũng nhiều khi nặng về đánh giá bằng điểm số. HS học cả năm với rất nhiều điểm nhưng đánh giá cuối cùng cho 1 HS chỉ căn cứ vào 1 điểm duy nhất cuối năm có khi vẫn chưa toàn diện được (tuy đã có Ktra lại do bất thường).

    Do thói quen của giáo viên nên những môn đánh giá bằng nhận xét qua các đơn vị kiến thức cần được theo dõi và đánh giá thì giáo viên chưa thực sự chú ý đúng mức.

             1.4. Triển khai hoạt động cam kết, bàn giao chất lượng học sinh theo Công văn số 7312/BGD-ĐTH ngày 21/8/2009 và Công văn số 4919/BGDĐT-GDTH ngày 17/8/2010 về việc Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2010 – 2011.

    Việc thực hiện cam kết chất lượng giáo dục vào đầu năm và các thời điểm trong năm học được thực hiện thường xuyên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Mỗi giáo viên căn cứ vào kết  quả “đầu vào” tự định hướng đề ra mục tiêu thực hiện dài hạn (1 năm học), ngắn hạn (học kì, tháng) cùng biện pháp thực hiện. Việc thực hiện cam kết đã đem lại hiệu quả thiết thực. Nhà trường lấy hiệu quả đó làm tiêu chí thi đua cơ bản và xem đó là thước đo năng lực của CBGV và nhiệt tình của mỗi GV.

    Công tác thực hiện bàn giao chất lượng lớp dưới cho lớp trên: Từ kết quả khảo sát chất lượng đầu năm học, trong các lần kiểm tra định kì và kiểm định chất lượng các trường đã tổ chức cho GV khối trên kết hợp cùng coi thi với lớp dưới (GV giám sát lớp nào, sang năm dạy lớp đó). Công tác này đã thực hiện thường xuyên đã góp phần giảm thiểu tiêu cực trong thi cử. Trong 2 năm học vừa qua ngành đã chỉ đạo nghiệm thu chất lượng HS lớp 5 có sự tham gia của trường THCS bằng công tác kiểm tra, giám sát của dội ngũ CBQL, GV THCS trong bài kiểm tra cuối năm học.

    II- Việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học từ năm học 2007 – 2008 đến nay.

    1. Công tác chỉ đạo, tập huấn, bồi dưỡng cán bộ quản lí, giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học.

              Phòng GD&ĐT Hương Khê đã tổ chức nhiều đợt tập huấn về đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học. Đặc biệt vào đầu năm học tổ chức chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học cho tất cả CBGV toàn huyện từ đó đã định hướng cụ thể cho BGH các trường và giáo viên có những định hướng thực hiện đổi mới phương pháp dạy học.

    Chỉ đạo và định hướng nội dung sinh hoạt liên trường cho các cụm, trên tinh thần tự chủ và đạc điểm thực tế của các trường trong cụm; hình thức sinh hoạt chuyên môn liên trường đã góp phần nâng cao chất lượng chuyên môn và rất phù hợp với qui mô trường nhỏ như Hương Khê.

              Trên cơ sở tập huấn và thực tiễn của nhà trường, các trường đã xây dựng kế hoạch bồi dưỡng về đổi mới phương pháp dạy học trên hai loại hình là thường xuyên và định kì.  

              + Bồi dưỡng thường xuyên : thông qua sinh hoạt chuyên môn trường, sinh hoạt tổ khối, …dự giờ, kiểm tra giáo án, ….

              + Bồi dưỡng định kì : bồi dưỡng nghiệp vụ hè, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ vào các kỳ nghỉ giữa học kỳ, các lớp chuyên đề, tập huấn…

        2. Việc sử dụng tài liệu bồi dưỡng và thiết bị dạy học về đổi mới PPDH.

    + Các tài liệu, trang thiết bị dạy học được nhà nước cấp, phát CBGV và HS phải có trách nhiệm bảo quản và sử dụng tốt.

    + Ngoài ra các trường còn trích từ ngân sách nhà nước và đặc biệt là thông qua Ban đại diện cha mẹ HS để tăng kinh phí mua sắm trang TBDH. Trong 2 năm gần đây qua “Tháng hành động XDCSVC chuẩn bị cho năm học mới” phòng đã tham mưu với huyện đưa vào đề án hướng dẫn các xã và trường học phần kinh phí để mua sắm bổ sung thêm TBDH, các loại sách tham khảo cho GV và HS để phục vụ cho công tác đổi mới PPDH của trường.

        3. Đánh giá về hiệu quả đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học

    Kế thừa thành tựu chương trình bồi dưỡng thường xuyên chu kì III và thành tựu đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học trong những năm qua đã đem lại những hiệu quả thiết thực góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.

    Về giáo viên : Hiểu rõ bản chất của đổi mới phương pháp dạy học, hình thành được những kĩ năng dạy học phát huy tính tích cực của học  sinh, chủ động điều chỉnh trong dạy học sát với thực tiễn đối tượng học sinh, phù hợp trang TBDH. Tổ chức các hoạt động dạy học theo hướng thầy thiết kế - trò thi công; dạy học thể hiện vai trò tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập. Tăng cường rèn luyện kĩ năng sử dụng đồ dùng dạy học đảm bảo mang lại hiệu quả tránh hình thức, phô trương.

    Về học sinh : Chủ động, tích cực và thể hiện tính sáng tạo trong hoạt động học tập. Các em mạnh dạn và tự tin trong học tập; do đó chất lượng học tập tăng lên rõ rệt, tỷ lệ học sinh yếu, kém giảm và tỷ lệ học sinh khá, giỏi tăng cao. Tuy nhiên khả năng giao tiếp, ứng xử của học sinh Hương Khê vẫn còn nhiều hạn chế và chất lượng vẫn chưa xứng tầm với các huyện vùng xuôi.

    III-  Kiến nghị, đề xuất

    Cần có những chính sách phù hợp nhằm khuyến khích động viên nhà giáo trong khi chương trình dạy học đồi hỏi yêu cầu cao hơn và thêm nhiều nội dung vào bài học như tích hợp Bảo vệ môi trường; Vệ sinh cá nhân, vệ sinh trường học, tăng cường GD Kĩ năng sống ….

    Cần biên soạn lại phân phối chương trình cho phù hợp chương trình GDPT với các tài liệu như SGK, Chuẩn KT, KN các môn học để tránh chồng chéo nhau; điều chỉnh lại tài liệu Chuẩn KT, KN để khắc phục tình trạng chuẩn mà không chuẩn như hiện nay.

    Có thể biên soạn lại SGK đưa các nội dung dạy tích hợp vào trong một tài liệu để giảm một lần soạn bài phải tham khảo nhiều quyển sách như hiện nay.

    Trong các đề kiểm tra cuối kì Sở cần nâng mức bài khó lên tỉ lệ trên 20% để phát hiện và bồi dưỡng HS giỏi. Trên thực tế nếu chỉ dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng ở mức “tối thiểu” học sinh rất khó tham gia các kì thi học sinh giỏi (ví dụ : Nội dung thi giải toán trên mạng Violympic…).

    + Bổ sung TBDH được cấp trong những năm thay SGK nay đã hỏng, mất mát và cũ nát. Ưu tiên bổ sung thiết bị dạy học hiện đại (máy vi tính, máy chiếu đa năng, ti vi,... ) cho những trường thuộc vùng kinh tế xã hội đặc biết khó khăn để GV và HS được tiếp cận và sử dụng.                                                                                                                                                                                                           Lê Hữu Tân

                                                                
    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Hữu Tân @ 15:00 02/12/2010
    Số lượt xem: 1822
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Thanks for your visiting

    free counters

    Bảng thử code


    Sẽ không hiển thị nếu code của bạn bị lỗi, khi đó bạn hãy sửa lại code ngay tại khung bên trái ! Chương trình ứng dụng chính xác cho các loại mã Java Script; HTML. Chúc bạn luôn thành công !

    Quyết định 33 của UBND tỉnh Hà Tĩnh